THAM LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Tại trường Tiểu học Phương Hưng - Năm học 2009 - 2010 Bài tham luận tại Hội nghị tổng kết năm học 2009 - 2010 và triển khai nhiệm vụ năm học 2010 - 2011 Người tham luận: Nguyễn Thị Vân Hiệu trưởng trường Tiểu học Phương Hưng - Gia Lộc - Hải Dương Kính thưa Văn hóa; Xã hội; Giáo dục; Đời sống; Sáng 19/10, Trường Đại học Sao Đỏ tổ chức khai giảng năm học mới. Đây là năm thứ 13, Đại học Sao Đỏ chỉ thực hiện tuyển sinh đào tạo trình độ đại học. Bài giảng Xã hội học đại cương - Chương 6: Xã hội hóa. Hoạt động của nhà trường là những hoạt động có tổ chức theo những quy định của xã hội. Xã hội càng văn minh thì tính chuyên môn hóa cũng được thể hiện và đề cao bấy nhiêu. Nhà trường là môi trường xã Xã hội học giáo dục|Xa hoi hoc giao duc | PGS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ | Loại: Giáo trình-Bài giảng-Giáo án | Nguồn: Trường ĐH Sư phạm - Đại học Thái Nguyên | Thư mục: Sư phạm - Giáo viên | xã hội học, giáo dục học, giáo dục|xa hoi hoc, giao duc hoc, giao duc Xã hội hoá giáo dục BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: /BGDĐT-GDTX V/v tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2022 Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Kính gửi: Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Vay Tiền Nhanh. luanvantot Zalo/tele 0934573149BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤHỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIATẠ THỊ BÍCH NGỌCXÃ HỘI HÓA GIÁO DỤCĐẠI HỌC Ở VIỆT NAMHIỆN NAYChuyên ngành Quản lý công Mã số 9 34 04 03TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNGHÀ NỘI, 2021Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149Công trình được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc giaNgười hướng dẫn khoa học 1. PGS. Trương Quốc Chính PGS. Đặng Khắc Ánh Phản biện 1 .................................................................................... Phản biện 2 ....................................................................................Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện Địa điểm Phòng bảo vệ luận án tiến sĩ - Phòng họp..... Nhà ......, Học viện Hành chính Quốc gia. Số 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - Hà Nội Thời gian vào hồi ......... giờ ..... ngày ... tháng .... năm .........Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam hoặc thưviện của Học viện Hành chính Quốc khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Dưới góc độ quản lý công, xã hội hóa XHH là phương thức đa dạng hóa chủ thể cung ứng dịch vụ công. Trong các học thuyết kinh tế phương Tây, XHH được xem là một giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết các thất bại của thị trường, và XHH dịch vụ công được hiểu là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ công dựa trên việc sử dụng các nguồn lực công. Tại Việt Nam, XHH dịch vụ công được hiểu là huy động và tổ chức cho các thành phần trong xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuy khác biệt về nội hàm, song từ góc độ quản lý công, có thể thấy sự tham gia của các chủ thể ngoài Nhà nước vào việc thực hiện các nhiệm vụ công là một xu thế tất yếu phổ biến ở các quốc gia. Giáo dục đại học GDĐH là hoạt động giáo dục sau trung học phổ thông nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học về một ngành, lĩnh vực cụ thể. Trong những năm qua, các hoạt động chủ yếu của XHH GDĐH ở Việt Nam đã diễn ra rất sôi nổi. GDĐH ngoài công lập phát triển mạnh nhưng chưa đồng đều và còn nhiều hạn chế. Hoạt động thu hút tài chính ngoài ngân sách được thực hiện dè dặt, thiếu chiến lược. Việc tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính đang bị thả nổi tùy vào năng lực tự thân của từng cơ sở GDĐH. Việc thực hiện quyền tự chủ được triển khai mạnh, song còn thiếu cơ chế và động lực để trở nên phổ biến. Hợp tác quốc tế về GDĐH đã thực hiện nhưng chưa tương xứng với tiềm năng... Với mong muốn khắc họa hiện trạng, chỉ rõ nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam, nghiên cứu sinh chọn “Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá thực trạng XHH GDĐH ở nước ta, luận án đề xuất quan điểm vàTham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731491Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731492Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước QLNN đối với giáo dục và GDĐH. 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu Luận án tập trung phân tích các sách chuyên khảo, các bài nghiên cứu; các văn kiện và nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách hiện hành về XHH giáo dục và XHH GDĐH; dữ liệu thống kê thường niên của Bộ Giáo dục và Đào tạo; các bài viết trên các trang thông tin điện tử về các vấn đề liên quan tới XHH GDĐH. - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Bảng hỏi được phát tới giảng viên và sinh viên theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với mục tiêu thu về 50 phiếu trả lời của sinh viên và 10 phiếu trả lời của giảng viên mỗi trường để thu thập thông tin nhằm đánh giá thực trạng XHH GDĐH ở Việt Nam. Các số liệu thu thập được sử lý bằng phần mềm Statistical Package for the Social Sciences SPSS Statistics. - Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập thông tin từ các đối tượng liên quan nhằm đánh giá hoạt động XHH GDĐH ở Việt Nam hiện nay và góp phần xây dựng các giải pháp tăng cường hoạt động này trong thời gian tới. Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành trên hai nhóm đối tượng, gồm cán bộ quản lý trong các cơ quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo có chức năng quản lý các vấn đề liên quan tới nội dung nghiên cứu và cán bộ quản lý đương nhiệm cấp trường/khoa/bộ môn tại các trường đã chọn. 5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu - XHH GDĐH ở Việt Nam là gì? - Tại sao phải đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam? - Thực trạng XHH GDĐH ở Việt Nam đang như thế nào? - Cần thực hiện những giải pháp nào để đẩy mạnh XHH GDĐH ởViệt Nam?Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149 Giả thuyết nghiên cứu XHH GDĐH ở Việt Nam là quá trình huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc thúc đẩy sự phát triển của GDĐH dưới sự quản lý của Nhà nước. Cần đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam vì XHH GDĐH làm giảm nhẹ gánh nặng ngân sách đồng thời đảm bảo nguồn cung đào tạo nhân lực trình độ ĐH; tạo ra nhiều cơ hội học tập, góp phần xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời; tạo nên động lực cạnh tranh trong toàn hệ thống, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực QLNN về GDĐH; và làm phát huy các tiềm lực của xã hội, khích lệ tính chủ động của các bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng GDĐH. Các phương diện biểu hiện của XHH GDĐH đều đang được triển khai, trong đó Phát triển GDĐH ngoài công lập là hoạt động được triển khai sớm nhất, có tốc độ phát triển nhanh nhất, song hiệu quả thu được chưa đạt tới mục tiêu đã đề ra; Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH là hoạt động được diễn ra thường xuyên và rộng khắp, tuy nhiên các bên liên quan vẫn đang đóng vai trò thiếu chủ động và chưa phát huy hết tiềm lực; Hoạt động thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH từng bước được thí điểm ở phạm vi nhỏ và song mới ở giai đoạn đầu áp dụng nên hiệu quả chưa rõ; Hoạt động thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH và hoạt động hợp tác quốc tế về GDĐH chưa được triển khai tương xứng với tiềm năng. Để đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam, cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của XHH GDĐH; hoàn thiện chính sách, pháp luật XHH GDĐH; tổ chức thực hiện có hiệu quả XHH GDĐH; bảo đảm các điều kiện đẩy mạnh XHH GDĐH. Mặc dù còn hạn chế, song nếu thực hiện tốt các giải pháp, XHH GDĐH sẽ phát huy được tốt vai trò. Điểm mới của Luận án Thứ nhất, luận án sử dụng cách tiếp cận của quản lý công để nghiên cứu XHH GDĐH với tư cách hoạt động XHH đối với một dịch Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731494Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731495Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Các công trình ngoài nước Huy động sự tham gia của xã hội vào việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của GDĐH là mối quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Vì điều kiện lịch sử cụ thể và bối cảnh xã hội khác nhau nên biểu hiện của hoạt động này ở các quốc gia có sự khác biệt. Nếu như ở Hoa Kỳ, tự chủ ĐH là triết lý chủ đạo và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống GD đem lại thực tiễn phong phú cho các nhà nghiên cứu; thì ở châu Âu, cùng với tự chủ ĐH, cách thức triển khai phương thức trao đổi giảng dạy và học tập Erasmus và hiệu quả của hình thức học tập trực tuyến quy mô lớn MOOCs đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu. Trong khi đó, tại Trung Quốc, XHH GDĐH gắn liền với các vấn đề về đóng góp tài chính và đang chuyển mình trong tổng thể công cuộc hiện đại hóa giáo dục. Các công trình trong nước Tại Việt Nam, cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT được xác định là quốc sách hàng đầu. Quan tâm phát triển và đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục không chỉ là chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, mà còn là hành vi mang tính truyền thống trong từng gia đình Việt Nam. Vì thế, XHH giáo dục có một nền tảng tốt để hình thành và phát triển một cách phong phú. Trên bình diện chung này, các nghiên cứu về XHH giáo dục được triển khai rất đa dạng. Các công trình nghiên cứu chung về xã hội hóa giáo dục GDĐH là bậc giáo dục cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong khi hoạt động XHH đối với các loại hình và bậc học còn lại được nghiên cứu khá cụ thể, thì XHH GDĐH lại là vấn đề còn đang để ngỏ. Có thể khẳng định chưa có một nghiên cứu nào xem xét XHH GDĐH như một đối tượng nghiên cứu. Đây là khoảng trống lý thuyết để nghiên cứu sinh tiến hành thực hiện luận án này. Các công trình nghiên cứu về từng nội dung của xã hội hóa Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149giáo dục đại học Tiếp cận XHH GDĐH như một chuỗi các hoạt động và trên cơ sở năm nội dung chủ yếu của hoạt động XHH GDĐH ở Việt Nam, có thể sắp xếp các nghiên cứu về từng khía cạnh cụ thể của XHH GDĐH dưới góc độ từng nội dung độc lập theo các nhóm cơ bản. 1. Nhận xét kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và vấn đề đặt ra đối với luận án Các công trình chủ yếu được công bố dưới dạng bài báo khoa học, sách tham khảo và Luận án tiến sỹ, chủ yếu nghiên cứu về XHH giáo dục nói chung. Các nghiên cứu lý luận về XHH giáo dục chủ yếu giới thiệu thể chế Nhà nước về XHH và chỉ ra các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế Nhà nước về XHH giáo dục nói chung và XHH giáo dục đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, chưa có nghiên cứu nào tập trung xem xét và làm rõ các vấn đề lý luận và phân tích thực tiễn về XHH giáo dục đối với bậc ĐH. Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay. Các nghiên cứu giới thiệu trong tổng quan là nghiên cứu về từng biểu hiện cụ thể của XHH GDĐH theo quan điểm lý thuyết của luận án. Các nghiên cứu về GDĐH ngoài công lập đã làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển, phân tích những ưu điểm và hạn chế của GDĐH ngoài công lập ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra các giải pháp từ thực tiễn quản lý. Các nghiên cứu về thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH chủ yếu tiến hành trên đối tượng nghiên cứu là các trường ĐH công lập và được xem xét trong vai trò của yếu tố tiên quyết giúp thực hiện tự chủ ĐH. Các nghiên cứu về tiếp nhận nguồn lực phi tài chính cho GDĐH chủ yếu tập trung vào vấn đề “nóng” và “khó” do lịch sử để lại là mối quan hệ giữa viện nghiên cứu và trường ĐH và bước đầu đề cập tới vai trò của các doanh nghiệp đối với trường ĐH, còn nhiều bên liên quan khác chưa được làm rõ khả năng đóng góp cho GDĐH. Các nghiên cứu về tự chủ ĐH chủ yếu thiên về nghiên cứu lý luận nhằm chỉ ra nội hàm khái niệm và phạm vi của tựTham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731497Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731498Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149thành phần khác nhau trong xã hội. Khái niệm “giáo dục đại học” GDĐH là giai đoạn giáo dục không bắt buộc sau giáo dục phổ thông. GDĐH có mục tiêu là cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học về một ngành, lĩnh vực cụ thể, từ đó làm gia tăng sự am hiểu chuyên môn của người học, đồng thời tăng cường khả năng làm việc kiếm sống của họ. GDĐH gồm hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu và các hoạt động hỗ trợ giảng dạy, nghiên cứu. Ở nước ta, GDĐH bao gồm đào tạo các trình độ ĐH, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ được thực hiện tại các cơ sở GDĐH. Khái niệm “xã hội hóa giáo dục đại học” XHH GDĐH là quá trình huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc thúc đẩy sự phát triển của GDĐH dưới sự quản lý của Nhà nước. Sự tham gia của toàn xã hội được thể hiện trên nhiều phương diện và dưới dạng các nguồn lực được huy động. Vì bản chất của quản lý công là nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu công, nên XHH GDĐH được hiểu là một giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐH, hướng tới đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. 2. Nội dung, đặc điểm và vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học Nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học Phát triển GDĐH ngoài công lập; Thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH; Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH; Thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH; Hợp tác quốc tế về GDĐH. Đặc điểm của xã hội hóa giáo dục đại học XHH GDĐH là mở rộng chủ thể cung ứng dịch vụ GDĐH. XHH GDĐH không làm giảm trách nhiệm QLNN về GDĐH. XHH GDĐH được thực hiện dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. XHH GDĐH là hoạt động mang tính xã hội, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Vai trò của xã hội hóa giáo dục đại họcTham khảo miễn phí các tài liệu khác tại Mục lục bài viết Nội dung chính Xã hội hóa giáo dục là gì? Những lợi ích của xã hội hóa giáo dục Xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Thứ nhất Cần nhận thức vì sao phải xã hội giáo dục và thế nào là xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Thứ hai Những vấn đề đặt ra của quá trình xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Xã hội hóa giáo dục là gì? Những lợi ích của xã hội hóa giáo dục Xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Xã hội hóa giáo dục là một quá trình phải được tiến hành một cách lâu dài. Chúng ta thường xuyên nghe tới xã hội hóa giáo dục nhưng ít ai có hiểu biết về xã hội hóa giáo dục. Trong bài viết lần này, chúng tôi sẽ cung cấp tới Quý độc giả một số kiến thức liên quan tới xã hội hóa giáo dục hiện nay. Xã hội hóa giáo dục là gì?Những lợi ích của xã hội hóa giáo dụcXã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nayThứ nhất Cần nhận thức vì sao phải xã hội giáo dục và thế nào là xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nayThứ hai Những vấn đề đặt ra của quá trình xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Xã hội hóa giáo dục là gì? Xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của Nhà nước để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục của nhân dân. Xã hội hóa giao dục gồm hai thành phần chính Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục. Những lợi ích của xã hội hóa giáo dục + Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược về giáo dục, chỉ đạp quá trình xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc, có tính cách mạng trong hoạt động thực tiễn, biến hoạt động giáo dục mang tính chuyên biệt chuyên môn và nghiệp vụ trong một lĩnh vực, một thiết chế giáo dục ngành giáo dục, trở thành một hoạt động học tập rộng lớn và sâu sắc bắt rễ vào các lĩnh vực đời sông vật chất, tinh thần của xã hội. Đảm bảo cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội. + Tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong xã hội dưới nhiều hình thức, thực hiện học tập suốt đời để người dân làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho Việt Nam trở thành một xã hội học tập. + Xã hội hóa giáo dục sẽ phát huy mọi tiềm năng trong xã hội về vật chất, trí tuệ, khoa học kỹ thuật, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục với các mức độ khác nhau giúp giáo dục đạt quy mô rộng, tốc độ lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ giáo dục. + Thực hiện xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước. Công bằng không chỉ trong việc hưởng thụ người dân được Nhà nước và xã hội chăm lo mà còn trong việc đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người từng địa phương. Xã hội hóa là một quá trình mà cá nhân được hòa nhập vào trong xã hội hoặc vào trong một nhóm người thông qua việc học các quy tắc, giá trị đối với từng nhóm xã hội đó. Xã hội hóa còn được hiểu là quá trình biện chứng, trong đó mỗi thành viên trong nhóm người đều có hành động và duy trì nó để tái xuất xã hội. Hiểu một cách đơn giản theo một cách ngắn gọn thì xã hội hóa là sử dụng các tư liệu sản xuất để trao đổi giá trị thành của công. Ý nghĩa của xã hội hóa là tăng tính cộng đồng, giảm thiểu tối đa chủ nghĩa cá nhân trong các lĩnh vực trong xã hội. Xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Thứ nhất Cần nhận thức vì sao phải xã hội giáo dục và thế nào là xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Giáo dục là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có nội dung, yêu cầu nhằm tạo thế hệ trẻ thành lớp người kế tiếp lực lượng lao động mới có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, có năng lực đảm đương và hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong tương lai. Những hoạt động giáo dục được tiến hành trong điều kiện toàn cầu hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xã hội hóa giáo dục với chúng ta là khái niệm mới, mặc dù đã nhắc đến nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nội hàm của nó còn có những cách hiểu khác nhau. Chính do cách hiểu khác nhau ấy mà có nhiều cách làm khác nhau, dẫn đến những chất lượng, hiệu quả khác nhau. Xã hội hóa giáo dục là làm cho các hoạt động mang tính giáo dục của xã hội được huy động vào quá trình giáo dục một cách tích cực, có hiệu quả. Xã hội hóa giáo dục cũng có nghĩa là xã hội tham gia giải quyết một cách phù hợp những vấn đề giao dục đang đặt ra. Xã hội hóa giáo dục là đa dạng hóa các loại hình giáo dục; là mở rộng quy mô đáp ứng yêu cầu giáo dục của xã hội; là xây dựng cơ cấu ngành học, cấp học hợp lý; là kiểm soát được chất lượng đào tạo toàn diện và ngày càng nâng cao. Thứ hai Những vấn đề đặt ra của quá trình xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nay Xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện này cần quan triệt và thực hiện những vấn đề chính cụ thể như sau Xã hội hóa giáo dục về nội dung, chương trình giáo dục. Giáo dục là hoạt động tuân theo quy luật nhận thức của con người từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nông đến sâu việc xây dựng nội dung chương trình giáo dục cần phải tuân theo quy luật nhận thức đó. Việc hiện đại hóa giáo dục là thiếp thu, trang bị những tri thức, kiến thức hiện đại cho người học, nhưng phải căn cứ vào quy luật nhận thưc. Vì thế không bảo thủ, trì trệ hoặc đưa mọi cái mới bất kỳ vào giáo dục một cách thiếu chọn lọc làm cho không những không thực tế, thiếu hiệu quả mà còn phản tác dụng. Xã hội hóa giáo dục là xây dựng nội dung, chương trình giáo dục phù hợp, thiết thực, có hiệu quả với từng loại đối tượng trong xã hội và xã họi phát huy tốt vai trò của mình trong quá trình giáo dục. Xã hội hóa giáo dục trong hệ thống tổ chức cơ sở giáo dục, cấp học, ngành học, huy động tài chính, kinh phí của xã hội. ở nhiều nước trên thế giới, người ta thực hiện xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực này bằng cách huy động các nguồn đóng góp tài chính của xã hội qua thuế và các nguồn thu khác để Nhà nước trực tiếp quản lý, đầu tư cho giáo dục. Vì vậy, họ thực hiện hệ thống giáo dục thống nhất, nhà nước chi phí đầy đủ, thường xuyên cho mọi nhà trường. Xã hội hóa giáo dục trong phương thức hoạt động giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là xây dựng xã hội học tập, mọi người trong xã hội ở mọi lứa tuổi, mọi cương vị đều tự giác, say sưa, có nhu cầu học tập mà thế giới hiện nay đang trở thành xu thế phổ biến. Ở nước ta, hình thức xã hội hóa giáo dục này cần được khuyến khích, có chính sách và cơ chế, chế tài thích hợp để cổ vũ mọi người tự học. Khái niệm giáo dục đại học là gì? Mục tiêu của giáo dục đại học? Vai trò của giáo dục đại học?Giáo dục là lĩnh vực không còn xa lạ với chúng ta bởi nó đã được hình thành từ rất lâu đời trong cách đối nhân xử thế cũng như phát triển tri thức nhân loại. Từ thời xa xưa khi giáo dục theo môi trường sư phạm không có nhiều tiềm năng thì sẽ thấy trong môi trường gia đình còn khi giáo dục trong ngành sư phạm phổ biến hơn thì có thể thấy được đào tạo theo các cấp từ mầm non đến cấp bậc đại học, sau đại học. Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 1. Khái niệm giáo dục là gì? Giáo dục được hiểu là một cách truyền đạt và tiếp thu về kiến thức, phong tục và những kỹ năng của con người áp dụng với con người đã được lưu truyền thông qua các thế hệ bởi hình thức giảng dạy, nghiên cứu hoặc đào tạo truyền đạt từ giáo viên, giảng viên tới hệ học sinh, sinh viên trên khắc cả nước. Ngoài ra giáo dục còn được thực hiện ngay trong chính môi trường gia đình có thể thấy thông qua cách giáo dục con cái của các bậc phụ huynh về cách đối nhân xử thế,…. Giáo dục sẽ được hình thành và thông qua nhiều giai đoạn khác nhau tuy nhiên đều tuân theo trình tự phù hợp với mức độ tuổi tác từ giáo dục cấp mầm non, giáo dục tiểu học cho tới giáo dục trung học và cấp độ đại học. Có thể thấy được phân cấp giáo dục ngoài ba cấp hệ tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông là phổ biến hầu hết đều tham gia thì còn có thể thấy thường xuyên thực hiện và diễn ra ở các trường đại học, trường cao đẳng, học viện, và về viện công nghệ. Trong đó sẽ còn có bao gồm đến tất cả những hoạt động về bậc sau trung học phổ thông như về cao đẳng, đại học, và sau đại học là hệ cao học, thạc sỹ, tiến sỹ,…. Giáo dục đại học hiện nay đang được coi là một trong những hình thức rất cần thiết và quan trọng bởi lẽ sau quá trình đào tạo thì lớp trẻ sẽ nắm bắt được nhiều kỹ năng, kinh nghiệm, tầm kiến thức cao hơn để áp dụng trong phát triển xã hội. Vậy giáo dục đại học là môi tường sư phạm giáo dục ở cấp cao hơn với mức độ kiến thức chuyên sâu theo ngành, nghề mà học sinh lựa chọn chứ không đào tạo một cách rộng theo nhiều chuyên môn và đào tạo tại bậc đại học chỉ dành cho những người đang có những nhu cầu và có đủ về những khả năng về kiến thức và xã hội tham gia học tập. Xét về khía cạnh xẫ hội khi nhìn về mục tiêu giao dục thì đối với từng quá trình phát triển xã hội, mục đích của giáo dục sẽ thay đổi tương ứng phù hợp theo từng giai đoạn khác nhau và được chia ra làm 3 loại cơ bản. Đó là – Mục tiêu giáo dục tiếp cận với truyền thống một trong những mục tiêu của giáo dục đó là muốn giáo dục những thế hệ sau tiếp tục duy trì nền truyển thống về các kiến thức, kỹ năng và các thói quen từ thời cha ông giúp hình thành một mẫu người đạt tiêu chuẩn, ngoài ra chọn hướng giao dục phát triển mạnh mẽ trên thế giới để lồng ghé, đáp ứng được về yêu cầu của xã hội. – Mục tiêu giáo dục tiếp cận cá nhân mục tiêu này hình thành dưới mong muốn giáo dục cá nhân những người có ý thức cao, có đầu óc sáng tạo có thể tự chủ bản thân đưa ra những quyết định theo chính bản thân mình nhận định sẽ phát triển được. – Mục tiêu giáo dục truyền thống – cá nhân kết hợp giữa hai mục tiêu này đang được phát triển một cách độc đáo ở chính việc tiếp tục tiếp thu phát triển những tinh hoa văn hóa, giá trị bản sắc dân tộc, kèm theo đó là học hỏi những giá trị độc đáo của các nước phương tây để không còn lạc hậu đáp ứng ra toàn xã hội phát triển đất nước theo hướng tích cực có chọn lọc. Như vậy, từ những phân tích trên có thể thấy mục đích của giáo dục là cung cấp, trang bị cho chúng ta toàn bộ về các kiến thức và kỹ năng. Đồng thời rèn luyện đạo đức, nhân cách và lối sống của con người giúp mọi người có thể hòa nhập vào với cộng đồng của mình. Song song với mục tiêu trong giáo dục thì pháp luật cũng đưa ra mục tiêu của giáo dục ở cấp đại học đã được quy định cụ thể tại Điều 5 Luật Giáo dục đại học 2012 và Khoản 3 Điều 77 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014. Theo đó Về mục tiêu chung của hệ đào tạo giáo dục đại học là + Đào tạo nhân lực chuyên sâu theo các ngành nghề trong xã hội đang phát triển, xây dựng phat triển các đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới ngay từ khi còn trong môi trường học tập tạo nền tảng có sẵn để có thể phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. + Đào tạo về phẩm chất chính trị, đạo đức theo chuẩn mực chung riêng về khối nhà nước thì đào tạo theo Đảng; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân. Đối với hệ đào tạo đại học thì không phổ thông như các cấp bậc tháp hơn mà tập trung đào tạo chuyên sâu theo chuyên ngành mà người học hướng tới với mục đích phát triển trọng tâm nền tảng giáo dục về nhân cách, phẩm chất, kiến thức cần phải có để áp dụng trong đúng lĩnh vực. Riêng đối với các trường đại học nằm trong khối nhà nước như Luật, Quân đội, Công an thì được đào tạo chung về lĩnh hội tinh thần yêu nước làm theo đường lối đúng đắn của Đảng, phục vụ nhân dân, vụ vụ nước nhà. Về mục tiêu cụ thể đào tạo trình độ đại học thì đây là hệ đào tạo để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên – xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo; Bản chất của đào tạo đại học là đào tạo chuyên ngành một cách chuyên sâu, có thể thấy trong đào tạo những người hành nghề luật thì sẽ được học tại những trường về Luật như Đại học Luật, Học viện Tòa án, Học viện Kiểm sát,….ngoài ra còn có một số trường mở khoa luật như Khoa luật của đại học quốc gia,… Từ những môi trường đào tạo chuyên sâu này giúp sinh viên khi ra trường nắm bắt được nhiều kiến thức hơn, có kinh nghiệp áp dụng khối lượng kiến thức hợp lý hơn. 3. Vai trò của Giáo dục đai học? Trong những năm gần đây khi nền kinh tế tri thức là lựa chọn của hầu hết các quốc gia thì giáo dục đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thứ nhất Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế; Thứ hai Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội và cuối cùng giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người. Giáo dục về hình thức chung đều có vai trò nâng cao kiến thức con người lên một bậc cao mới đáp ứng được cả nhu cầu truyền thống và cả môi tường phát triển xã hội như hiện nay. Trong giáo dục đại học đóng vai trò là hệ thống nuôi dưỡng của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối thiểu cần thiết để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu các công trình khoa học cần đến sự sáng tạo, tư duy độc lập, tư duy logic vấn đề trong giao lưu, hợp tác,… Những thay đổi lớn về kết cấu kinh tế, các ngành công nghiệp và thị trường lao động quốc tế dẫn đến yêu cầu phát triển kiến thức nhanh chóng cũng như sự linh hoạt và di chuyển nghề nghiệp đối với từng cá nhân. Chính vì vậy, đào tạo hệ đại học chính là một hình thức tích lũy kiến thức và tiến trình phát triển công nghệ làm cho cá nhân người lao động linh hoạt hơn trong việc thích ứng với nghề nghiệp mới bởi lãnh tụ được cả kỹ năng và năng lực thông qua quá trình giảng dạy. Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo bởi lẽ giáo dục mang lại kiến thức, quan điểm và kỹ năng giúp nâng cao năng suất lao động khi có cơ hội họ sẽ tìm được việc làm ở cả khu vực chính thức và không chính thức, thu nhập của họ sẽ tăng cao hơn và cũng từ đó, tạo điều kiện cho họ than gia vào các quá trình xã hội một cách bình đẳng hơn nhờ nâng cao nguồn lực của người lao động. Điều này có thể thấy rõ ràng hơn trong cuộc sống hiện nay xuất phát từ môi trường nông thôn chính là việc các gia đình cố gắng cho con cái được bước ra môi trường học tập hệ đại học để mạnh dạn phát triển bản thân, đi tìm kiếm những cơ hội việc làm mới có thu nhập cao hơn ổn định cuộc sống thay vì làm việc ở những vùng quê nghèo khó. Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn. Theo quan điểm này, giáo dục đại học là đầu vào tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của các ngành trọng tâm phát triển như thương mại, công nghệ,…. bởi lẽ những người tham gia đại học đều phải có năng lực kiến thức phù hợp với chuyên ngành, tuy nhiên không hẳn những người học đại học tốt nghiệp đều đạt chuẩn nhưng đối với những người cống hiến cả năng lực, ký năng và kiến thức của mình sẽ là nguồn năng lực đạt chuẩn. Mặt khác, giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu. Dưới góc độ của cách nhìn này thì giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu khoa học bởi lẽ môi tường đại học đã được làm quen với việc xay dựng các đề tài, phát triển đề tài nghiên cứu khoa học đó cũng là lí do có thể khẳng định giáo dục đại học đóng vai trò là hệ thống nuôi dưỡng của mọi lĩnh vực trong đời sống. Một quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải kết hợp hai yếu tố là hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động. Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học bởi đây là môi trường cho phép con người phổ cập, tiếp thu toàn bộ kiến thức, kỹ năng học tập, nghiên cứu, khai thác những tinh hoa, nghệ thuật cũng như phát triể hệ tư duy một cách mới mẻ hơn. 1. Phát triển nguồn nhân lực Nhu cầu cấp thiết trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH được quan niệm là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao và tạo ra những biến đổi về chất trong toàn bộ các hoạt động của đời sống xã hội trước hết là hoạt động sản xuất vật chất. Đó là quá trình sử dụng năng lực, kinh nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh, hiện đại. Ngày nay, công cuộc CNH, HĐH đã trở thành tất yếu của sự phát triển, là làn sóng mạnh mẽ tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới cũng như mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII 7-1994 đã thông qua đường lối CNH, HĐH đất nước. Đảng ta xác định Trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN, CNH, HĐH là phương tiện, phương thức để đạt đến mục tiêu vì cuộc sống hạnh phúc ngày càng tốt đẹp, vì sự giải phóng và phát triển toàn diện của con người. Hiện nay, CNH, HĐH được xác định là nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân; là con đường duy nhất để “rút ngắn” quá trình phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các nước trên thế giới. Là một nước còn nghèo với kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, CNH, HĐH đối với Việt Nam là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Theo lý luận về “Hệ thống sản xuất lấy con người làm trung tâm” thì nguồn lao động luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội[1]. Nguồn lực quý báu, quan trọng nhất, quyết định sự phát triển và phồn thịnh của các quốc gia, cộng đồng trên thế giới không còn là nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà là “nguồn nhân lực” với phẩm chất, tầm nhìn, kiến thức, kỹ năng cao. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng dân số, do đó phát triển nguồn nhân lực thực chất là liên quan tới cả hai khía cạnh trên. Tuy nhiên, hiện nay đối với thế giới và đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thì vấn đề nổi lên gay gắt là chất lượng dân số. Do đó, các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực trong những thập niên gần đây chủ yếu tập trung vào nguồn nhân lực, tức chủ yếu tập trung vào vốn nhân lực được hiểu là lực lượng lao động có kỹ năng [2]. Đặc biệt, nguồn nhân lực chất lượng cao NNLCLC được xem là nguồn lực chính, nhân tố quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế -xã hội và quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác[3]. Tài nguyên trên thế giới ngày càng cạn kiệt, còn tri thức và sức sáng tạo của con người là vô hạn. Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế -xã hội, là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển thần kì. Tri thức - sản phẩm trí tuệ của con người được xem là nguồn tài nguyên lớn và quý báu nhất của nền kinh tế tri thức, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững và là yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của quốc gia. Hiền tài, nhân tài và lao động trí thức đã trở thành một lực lượng sản xuất mới, giữ vai trò quyết định hơn cả vốn và tài nguyên. Nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, nhà tương lai Mỹ Avill Toffer cho rằng “tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên” [4]. Vì vậy, con người được xem là một “tài nguyên đặc biệt” và nguồn lực của sự phát triển và “phát triển tài nguyên con người” Human resources development trở thành vấn đề quan trọng nhất trong phát triển, vừa có tính chất “mục đích” vừa có tính chất “phương tiện”. Theo GS. Thurow [5] thì “sự khác biệt nhất trong cạnh tranh kinh tế trước đây và thời đại ngày nay là ở chỗ con người đang tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vũ khí cạnh tranh quyết định ở trong thế kỷ XXI là giáo dục và kỹ năng của người lao động” [6]. Truyền thống Việt Nam cũng đã xác định “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” từ thực tiễn diễn ra trong lịch sử đương thời, Thân Nhân Trung đã có câu nói bất hủ khi viết bài ký Đề tên Tiến sĩ Khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại bảo thứ 3 1442 "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...". Lời văn bất hủ của Danh sĩ Thân Nhân Trung từ hơn nửa thiên niên kỷ trước vẫn còn giá trị to lớn với chúng ta hôm nay và mai sau. Trong xu thế phát triển nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là NNLCLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản 1 Áp dụng công nghệ mới, 2 Phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và 3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là NNLCLC - tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” the human capital. Giữa nguồn lực con người NLCN, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, KHCN…có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội [7]. Lực lượng nhà khoa học và quản lý trình độ cao là nguồn tài nguyên nhân lực chủ chốt cho phát triển kinh tế tri thức và cạnh tranh mỗi quốc gia. Chiến lược CNH, HĐH đất nước cần dựa vào sự dẫn dắt, thực hiện của các nhà khoa học và quản lý trình độ cao. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNLCLC, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, môi trường chính trị - xã hội ổn định. Mặt khác, các quốc gia có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường chuyển giao, nhập khẩu nhưng không thể nhập khẩu hay vay mượn được khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia phát triển và mới nổi đều chú trọng thu hút, đào tạo, đãi ngộ nhân lực khoa học và quản lý trình độ cao. Là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nên phát triển nguồn nhân lực được xem là một yếu tố có tính chiến lược then chốt nhất cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và CNH, HĐH nói riêng. Quá trình CNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp là do quy định của nhiều yếu tố, trong đó, trước hết và chủ yếu tùy thuộc vào năng lực của con người, vào chất lượng của NLCN. Phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực và đầu tư, chăm lo cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững, bảo đảm sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia và là chìa khóa của sự phát triển bền vững. Nhật Bản là một thí dụ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Nhật bị tàn phá, khó khăn, thiếu thốn đủ thứ, kinh tế kiệt quệ, khoảng 80 vạn người dân thiếu gạo ăn khoai, sắn.... Nhưng sau đó kinh tế Nhật Bản phục hồi nhanh chóng 1945 –1654 và phát triển với tốc độ thần kỳ 1954 –1973, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ. Đó chính là kết quả của việc phát huy tối đa vai trò nguồn lực trong sự phát triển đất nước. Bài học kinh nghiệm rút ra từ những thành công trong quá trình phát triển của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới NICs ở châu Á cho thấy người ta không chỉ chú trọng ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới hoặc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, mà vấn đề then chốt hơn cả là biết khơi dậy và phát huy năng lực trí tuệ và sức sáng tạo to lớn của con người. Vì vậy, để thực hiện thành công CNH, HĐH và hội nhập quốc tế HNQT, cần phát triển nhanh NNLCLC, nhất là nguồn nhân lực đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Đào tạo và phát triển NNLCLC đang là một trong những vấn đề trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ yếu. Phát triển NNLCLC có nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh; xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ; xây dựng sự nghiệp giáo dục tiên tiến, hiện đại và một xã hội học tập toàn diện để tạo NNLCLC. Trọng tâm của đào tạo nhân lực phục vụ CNH, HĐH trước mắt là đào tạo khả năng về công nghệ, là “áp dụng công nghệ để tạo nên sự giàu có" kể cả “quản lý công nghệ”. 2. Giáo dục đại học trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng, vào bất kỳ thời đại nào, ở bất cứ quốc gia nào muốn hưng thịnh đều phải lấy giáo dục làm trọng. Giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế -xã hội. Thế kỷ XXI là thế kỷ của tri thức, thông tin và giáo dục là chìa khóa để bước vào lâu đài tri thức vô tận của con người. Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục trong việc tạo NNLCLC, các nước đều tăng cường sức mạnh cho giáo dục để tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế. Ở các nước phát triển, mô hình đại học nghiên cứu đã phát triển đến mức độ cao, gắn với hoạt động sáng nghiệp. Đại học vừa là các đầu tàu về tri thức, vừa là nền tảng văn hóa của xã hội; và đào tạo, phát triển NNLCLC thông qua giáo dục đại học GDDH được xem là quy luật tất yếu trong thời đại ngày nay. GDDH có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm chỉ ra rằng giáo dục đào tạo và CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ với nhau; thậm chí giáo dục đào tạo là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ và thành công của sự nghiệp CNH, HĐH. “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[8]. Thực tiễn những nước đi trước về CNH, HĐH cũng chỉ ra rằng xã hội muốn đạt tới trình độ phát triển mới và cao hơn thì tất yếu phải dựa trên sự phát triển tương ứng về mặt giáo dục. Giáo dục và đào tạo vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa có ý nghĩa trực tiếp đối với sự thành công của CNH, HĐH và CNH, HĐH với những thành tựu của nó lại tác động trở lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiện đại hóa giáo dục và đào tạo [9]. Vì vậy, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những nội dung quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và CNH, HĐH tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng hiện đại. Là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đầu tư cho giáo dục phải được xem là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển; đồng thời, giáo dục phải đi trước, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế -xã hội đất nước. Đào tạo NLCN, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ, lực lượng trí thức có đủ phẩm chất và tài năng bắt kịp trình độ phát triển của thế giới là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn, là vấn đề có tầm chiến lược và quyết định tương lai của đất nước. Vì vậy, công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá, tăng tốc mạnh mẽ trong thời gian tới. Thomas cho rằng, giáo dục là mệnh lệnh kinh tế và chính trị ở Việt Nam Ở "mệnh lệnh kinh tế" giáo dục là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và giúp giải thích tại sao các nền kinh tế này duy trì được tốc độ tăng trưởng cao khi hầu hết các nước đang phát triển tăng trưởng chậm lại. Ở "mệnh lệnh chính trị", giáo dục là khát vọng của con người Việt Nam[10]. Nhiệm vụ trực tiếp là phải tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ. Ngày nay, GDĐH là con đường tất yếu góp phần quyết định vào phát triển đất nước. Trường đại học được giao chức năng quan trọng là sáng tạo, chuyển giao tri thức, bảo tồn và phát triển văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực cao cho xã hội; trường đại học luôn mang trên mình những nhiệm vụ cao cả 1 Là nơi truyền đạt kiến thức khoa học, tri thức, văn hóa của loài người, những tri thức của xã hội, đất nước; không chỉ truyền đạt tri thức của quá khứ mà còn là tri thức của hiện tại và cả tương lai. Tri thức do chính trường đại học sáng tạo, phát triển và bổ sung. 2 Là nơi dạy cho sinh viên biết tư duy khoa học, biết phản biện, luôn khám phá, và đi đến tận cùng, mãi mãi của cái huyền bí khám phá khoa học. 3 Là nơi tạo môi trường và giúp người sinh viên tự rèn luyện để trở thành những công dân trí thức, nhận thức một cách rõ ràng trách nhiệm trước bản thân, gia đình, xã hội và đất nước Phan Thanh Bình, Giám đốc ĐHQG-HCM. Là trung tâm khoa học và đào tạo, nơi lưu trữ, sáng tạo và truyền bá tri thức, nơi đào tạo ra không chỉ là những người công dân, những người lao động có tri thức mà còn có nhiệm vụ cao hơn, là nơi chuẩn bị đội ngũ lãnh đạo tương lai cho đất nước. Là một lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao để cung cấp cho xã hội, GDDH được ưu tiên ở hầu hết các nước trên thế giới. Vươn tới những chuẩn mực quốc tế trong đào tạo và NCKH, đồng thời đào tạo NNLCLC để chủ động HNQT và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là sứ mệnh, là trách nhiệm lớn lao của các trường đại học. Vì vậy, các quốc gia phát triển nhanh đều có các trường trụ cột đại học, các chính phủ đều chú trọng đầu tư phát triển của GDĐH. Đặc biệt, trong các loại trường đại học nghiên cứu, ứng dụng và thực hành thì trường đại học nghiên cứu có vai trò đặc biệt trong việc duy trì sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới nhằm dẫn dắt tiến bộ xã hội cũng như thúc đẩy sự giàu mạnh của quốc gia. Các trường đại học “tinh hoa mới” là cách nói khác của các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của mỗi quốc gia, đào tạo nguồn nhân lực tài năng, chất lượng cao, nghiên cứu khoa học đỉnh cao, đóng vai trò hoa tiêu, dẫn đầu, tiên phong và trụ cột của nền GDĐH của đất nước hội nhập và cạnh tranh, phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa. Để thực hiện được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Việt Nam đang tiếp tục đổi mới sâu rộng và đồng bộ hơn; tập trung ưu tiên tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh và bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động và tích cực HNQT. Tình hình trên đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo những yêu cầu mới, vẻ vang nhưng cũng nặng nề hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển NNLCLC và nền khoa học công nghệ tiên tiến. Hiện nay, nước ta đang triển khai thực hiện Cương lĩnh của Đảng, các Nghị quyết số 20/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 29/NQ-TW về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo. Việc Đảng và Nhà nước đã chọn việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC gắn kết với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong ba khâu đột phá chiến lược đã giao trách nhiệm và là cơ hội phát triển cho các trường đại học nghiên cứu cũng như hệ thống GDĐH Việt Nam. Sơ đồ quy trình đào tạo và quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học[11] TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết về phát triển khoa học và công nghệ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bổ sung, phát triển năm 2011. 4. Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh đồng chủ biên, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan Giáo dục đại học Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007. 5. Thomas Hai "mệnh lệnh" của giáo dục đại học [1] William Petty Nhà kinh tế học người Anh cho rằng “Lao động là cha, đất đai là mẹ” của mọi của cải vật chất. cho rằng con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất. [2] Đôi khi các khái niệm “vốn nhân lực”, “nguồn vốn nhân lực” và “nhân lực” được dùng thay thế cho nhau. Phát triển nguồn nhân lực là một khái niệm rộng, liên quan đến quá trình nâng cao và khuyến khích đóng góp năng lực của người lao động cho quá trình sản xuất và định hướng chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực là nâng cao trình độ chuyên môn và sử dụng hiệu quả nguồn lực đó. [3] Để chỉ NNLCLC, các tạp chí nghiên cứu về giáo dục, đào tạo và kinh tế thường sử dụng khái niệm lao động có kỹ năng cao High skill labours hoặc lao động chất lượng cao High quality labours. [4] Avill Toffer Power Shift Thăng trầm quyền lực [5] Lester Thurow Carl sinh ngày 7-5-1938 tại Livingston, Montana là giáo sư Kinh tế học người Mỹ, cựu hiệu trưởng của MIT Sloan School of Management, tác giả của nhiều cuốn sách về chủ đề kinh tế. [6] Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh đồng chủ biên, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan Giáo dục đại học Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007, [7] Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện 1 Có đường lối kinh tế đúng đắn. 2 Biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó. 3 Có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo. 4 Có đội ngũ các nhà doanh nhân giỏi. [8] Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bổ sung, phát triển năm 2011. [9] Như các trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho việc dạy học giúp cho giáo dục và đào tạo tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng chính yêu cầu của CNH, HĐH. [10]. Thomas Hai "mệnh lệnh" của giáo dục đại học [11] Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh đồng chủ biên, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan Giáo dục đại học Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007, Đào tạo có sự tham gia của nhà sử dụng lao động Ngay từ khi mới là sinh viên, Ngô Quang Khánh, Trường đại học FPT ngành Kỹ thuật phần mềm, đã được nhận vào thực tập và làm việc với khách hàng Nhật Bản tại Công ty CP Phần mềm FPT FPT Software. Trong quá trình đó, Khánh đã tự nâng cao trình độ tiếng Nhật, học văn hoá người bản địa và mở rộng quan hệ với các công ty Nhật Bản. Sau kỳ thực tập, Khánh xuất sắc vượt qua vòng tuyển chọn, và được sang Nhật theo chương trình hợp tác phát triển giữa Đại học FPT với Tập đoàn SBI Holdings. Đến giờ, Khánh vẫn đang làm việc tại đây, với mức lương mà nhiều người mơ ước. Khánh chỉ là một trong số nhiều sinh viên có năng lực, ngoại ngữ và chuyên môn vững chắc của Đại học FPT đáp ứng tốt yêu cầu tuyển dụng của những người sử dụng lao động khắt khe từ Nhật Bản. Trên website của trường, bà Phạm Tuyết Hạnh Hà – Trưởng Phòng Công tác sinh viên cho biết, hiện nay có 10-15% cựu sinh viên Trường đại học FPT đang học tập và làm việc tại nước ngoài, trong đó 50% đang học tập và làm việc tại Nhật Bản. Trường đại học FPT là một trong những cơ sở giáo dục đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu là “tấm gương” điển hình về xã hội hoá giáo dục. Sau 5 năm thực nghiện Nghị quyết số 29, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Bộ đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học đổi mới công tác xây dựng chương trình đào tạo trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo. Kết quả là nhiều cơ sở giáo dục đại học đã tích cực rà soát, điều chỉnh, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học, tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. “Đào tạo kết hợp với doanh nghiệp được xem là một đột phá của nhiều trường như Trường đại học Công nghiệp Hà Nội, Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trường đại học FPT… trong các hoạt động xây dựng chương trình giảng dạy, thực tập, kiến tập,… các nội dung do doanh nghiệp đặt hàng”, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ. Thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách cho phát triển giáo dục Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong giáo dục đào tạo, ngày 4-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/ về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Nghị quyết xác định Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Theo Bộ giáo dục và Đào tạo, kể từ sau khi Nghị quyết số 29-NQ/ ra đời, xã hội hóa giáo dục trong những năm qua đã đạt góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách. Chủ trương xã hội hóa giáo dục đã tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển giáo dục. Số liệu của Bộ giáo dục và Đào tạo cho biết, tại thời điểm năm 2015, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục TCCN và giáo dục đại học cả nước đã thu hút được xấp xỉ 18 nghìn dự án trong nước. Số dự án này đã tạo ra xấp xỉ 1,8 triệu chỗ học, gần 200 nghìn chỗ làm việc trong đó khoảng 112,6 nghìn chỗ làm việc cho giáo viên và giảng viên; cung cấp cho thị trường lao động hơn 93,1nghìn người/năm đã qua đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng và đại học. “Xã hội hóa giáo dục đã giúp thúc đẩy quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới về dạy, học và quản lý giáo dục, góp phần đưa giáo dục và đạo tạo hội nhập với các nước trong vùng và trên thế giới”, báo cáo của Bộ giáo dục và Đào tạo về sơ kết 5 năm triển khai Nghị quyết 29 đã nhấn mạnh. Theo báo cáo, các lĩnh vực công nghệ mới được chuyển giao bao gồm phương pháp dạy học, xây dựng và phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy; phát triển tổ chức và đội ngũ, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch giáo dục và quản trị cơ sở giáo dục, đào tạo... Nhiều chương trình giáo dục tiên tiến theo hướng tiếp cận năng lực, phát triển các kỹ năng mềm, quan tâm nhiều hơn đến hoạt động ngoại khóa giúp học sinh, sinh viên phát triển thể chất, năng khiếu và tính sáng tạo, chủ động hòa nhập và chấp nhận cạnh tranh khi đi ra môi trường quốc tế đã được quan tâm, nghiên cứu và triển khai trong thực tế. Cụ thể, tính đến năm học 2016-2017, đã có 35 chương trình tiên tiến ở 23 cơ sở đào tạo; 16 chương trình kỹ sư chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Cộng hoà Pháp ở 4 cơ sở đào tạo và 56 chương trình chất lượng cao ở các cơ sở khác. Ngoài ra, các trường đại học còn có hơn 500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế với các trường đại học ở các nước trên thế giới. Tính đến hết năm học 2018-2019, đã có gần 550 chương trình hợp tác và liên kết đào tạo đang hoạt động giữa 85 cơ sở giáo dục Việt Nam với 258 cơ sở giáo dục đại học nước ngoài thuộc 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài đã tuyển được 86 nghìn sinh viên, học viên trong đó có khoảng 48 nghìn người đã tốt nghiệp ở các trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và các trình độ khác; và người đang học. Những thành công của cá nhân chàng sinh viên Ngô Quang Khánh, của Trường đại học FPT và nhiều cơ sở đào tạo khác là ví dụ điển hình về những thành công trong chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục. Đây chính là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước phù hợp với sự phát triển của xã hội.

xã hội hóa giáo dục đại học